Tư tưởng Hồ Chí Minh về Tôn giáo và sự vận dụng của Đảng ta tại Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) về công tác tôn giáo
Thứ 3, ngày 29 tháng 11 năm 2016 - 16:10
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo nên việc đoàn kết toàn dân trong đó có đoàn kết dân tộc và đoàn kết tôn giáo là một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến sự thắng lợi của cách mạng. Với một giác quan chính trị nhạy bén và sự mẫn cảm kiệt xuất, Hồ Chí Minh sớm nhìn thấy đồng bào các tôn giáo là một lực lượng quần chúng hùng hậu của cách mạng, là một bộ phận không thể thiếu của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tập hợp quần chúng tín đồ các tôn giáo vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc không những đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho tín đồ tôn giáo mà còn đem lại quyền tự do tôn giáo cho họ. Theo Người thì: "Tổ quốc được độc lập thì tôn giáo mới được tự do, dân tộc được giải phóng thì tôn giáo mới được giải phóng".

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết lương giáo

Là người đứng đầu Nhà nước, lại am hiểu lịch sử dân tộc và gắn bó sâu sắc với với thực tiễn cách mạng, Hồ Chí Minh đã rút ra bài học quý báu: "Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta được độc lập tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn".

Tư tưởng đoàn kết dân tộc trong đó có đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ nhận thức sâu sắc về vai trò quần chúng trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: đồng bào lương giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là yếu tố quan trọng dẫn tới sự thành công của cách mạng Việt Nam. Với mọi tôn giáo, chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện sự tôn trọng và thực hiện bình đẳng tôn giáo. Người khẳng định: năm ngón tay có ngón ngón ngắn, nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác nhưng thế này thế khác đều thuộc dòng dõi tổ tiên ta… Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Người nói: "Phải đoàn kết chặt chẽ đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hoà thuận ấm no, xây dựng tổ quốc, phải chấp hành đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của tất cả các tôn giáo".

Luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo phù hợp với tình hình thực tiễn. Cụ thể, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác tôn giáo đã chỉ rõ: "Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc... Đảng và Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo".

Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn trọng quyền tự do, tín ngưỡng của nhân dân

Tự do tín ngưỡng tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người đã được công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1996 thừa nhận. Đây cũng là nội dung quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngay sau ngày tuyên bố “Tuyên ngôn độc lập” của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày 3/9/1945, khi quy định của về việc tiếp chuyện đại biểu các đoàn thể, Người đã chú ý về việc tiếp chuyện các đoàn đại biểu tôn giáo. Người viết: “Từ năm nay tôi sẽ rất vui lòng tiếp chuyện các đại biểu của các đoàn thể như: các báo Việt và Tàu, Công giáo, Phật giáo…” . Đồng thời Người cũng nêu 6 nhiệm vụ cấp bách phải giải quyết trong đó nhiệm vụ cuối cùng Người đã chỉ rõ: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương để dễ bề thống trị. Tôi đề nghị chính phủ ta tuyên bố: tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”.

Ngày 14/6/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 234/SL về chính sách tôn giáo gồm 5 chương, 16 điều. Có thể nói đây là văn bản pháp luật tiêu biểu nhất, hoàn chỉnh nhất, ghi nhận những cống hiến quan trọng của Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo. Lần đầu tiên, ở Việt Nam có một văn bản riêng về chính sách tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo tiếp tục được khẳng định và làm rõ hơn. Sắc lệnh ra đời đã làm cho chính sách tôn giáo được luật hóa, vừa là công cụ vừa là điều kiện để thực thi quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Người, Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX đã chỉ rõ: “Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuân khổ của pháp luật, bình đẳng trước pháp luật… Nghiêm cấm phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng tôn giáo…”

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng và tuyên truyền mê tín dị đoan

Với tư cách là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Hồ Chí Minh luôn là tấm gương mẫu mực về thực hiện quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo. Tư tưởng ấy được thể hiện nhất quán cả trong tư duy lý luận và thực tiễn của Người. Tuy nhiên, một mặt là tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo nhưng mặt khác Người cũng kiên quyết đấu tranh với những kẻ có âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước, đi ngược lại lợi ích của đồng bào.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống địch lợi dụng tôn giáo đã được thể chế hóa tại điều 7 sắc lệnh SL/234 về vấn đề tôn giáo: “Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, tuyên truyền chiến tranh, phá hoại đoàn kết, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, xâm phạm đến tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác hoặc làm những việc trái pháp luật” .

Cùng với việc đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng, Hồ Chí Minh cũng kịch liệt lên án, phê phán những kẻ núp bóng tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, gây nhiều hậu quả tiêu cực đến đời sống của con người và sự phát triển của xã hội. Về vấn đề này, Nghị quyết trung ương 7 khóa IX đã nhấn mạnh: “Nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm đến an ninh quốc gia”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về những giá trị tích cực của tôn giáo

Hồ Chí Minh đã tiếp cận tôn giáo không chỉ là nhu cầu tinh thần của nhân dân mà Người còn khai thác tôn giáo với tính cách là những giá trị đạo đức, di sản văn hóa của nhân loại. Người đấu tranh quyết liệt với những kẻ lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để chống phá sự nghiệp cách mạng nhưng Người cũng nhìn thấy ở tôn giáo những giá trị tốt đẹp phù hợp với đạo đức mới và phục vụ cho sự phát triển của thời đại.

Hồ Chí Minh viết: “Mục đích cao cả của Phật Thích ca và Chúa Giê su đều giống nhau, Thích ca và Giê su đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng”. Người nói: “Chúa Giê su dạy đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: đạo đức là bác ái”.

Tiếp thu tư tưởng quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX đã khẳng định: “Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân... Mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung. Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Những luận điểm cơ bản và quan trọng của Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo đã được Đảng ta kế thừa và vận dụng sáng tạo tại Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX về công tác tôn giáo. Tính thời sự và nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như trong quan điểm của Đảng ta đã góp phần thúc đẩy và tăng cường khối đại đoàn kết tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và là minh chứng sinh động cho chân lý “Đoàn kêt, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”.

Dương Thuý Ngọc
Trường Chính trị tỉnh Tuyên Quang

 



Lượt xem: 802 views  
Tin mới nhất









 Bản in

Các tin đã đăng:

Xem tin theo ngày:     Tháng:    Năm:     
CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH TUYÊN QUANG
Giấy phép xuất bản số: 324/GB-BC của Bộ VHTT cấp ngày 08 tháng 11 năm 2006
Trưởng ban biên tập: Lê Quang Ninh, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông
Trụ sở: Đường Tân Trào, Phường Minh Xuân, Thành phố Tuyên Quang
Điện thoại: 0276 251 929 Email: Congttdttq@Gmail.com
@ Bản quyền thuộc Cổng Thông tin Điện tử tỉnh Tuyên Quang

   Design by 

Online: 27
Truy cập: 15.361